tuần-du 03
một nẻo Trúc Lâm
một nẻo Trúc Lâm
CHUYẾN ĐI
Dù được truyền cảm hứng từ câu chuyện có thật, tất cả nhân vật, tình tiết có thay đổi so với thực tế
NGÀY 1: CƠN GIẬN
NGÀY 2: ĐỐI DIỆN
NGÀY 3: CHẤP NHẬN
NGÀY 4: LÀ CON, NGƯỜI
NGÀY 5: CON ĐƯỜNG
NGÀY 6: NƠI TA ĐANG ĐỨNG
7 người chúng tôi, mỗi người một mảnh riêng,
Từ muôn nẻo đường, mỗi người một niềm tin, một câu hỏi, một vấn đề,
vô tình gặp gỡ, vô tình đồng hành.
Lần theo bước chân người xưa, cũng là đi vào lòng mình.
Trong nay có xưa, khái niệm thời gian trở thành ảo ảnh, được mất hóa hư vô.
Chỉ còn một thực tại xuyên suốt nối dài.
Ngày đầu tiên ở Hà Nội, tôi nhớ mình đã mang theo một cơn giận. Một cơn giận âm ỉ từ lâu, chồng chéo giữa thực tại và quá khứ.
Hôm đó Hà Nội mưa lớn. Cơn mưa trái mùa làm dịu đi cái nóng oi bức tháng 4.
Thời tiết buổi chiều như chớm thu, mơn man trên da.
Vừa bước qua đường, nhìn thấy bóng dáng quen thuộc, tim tôi hẫng đi một nhịp. Phố phường như nêm, tiếng còi xe hối hả. Giữa dòng người ngược xuôi, thời gian chợt dừng lại nơi mọi người đang ngồi.
Từ nơi đang đứng, tôi chậm lại một nhịp.
Ở nơi đây, ngổn ngang bao rối bời cuồn cuộn, và bên kia bờ, một cảnh cửa khép hờ đợi tôi bước qua.
3 anh thì tôi đã quen thuộc, nhưng N là lần đầu gặp mặt. Thật ra tôi đã gặp N, qua chữ. Cảm giác vừa lạ, vừa quen, như đang nắm giữ một điều mình từng biết, nhưng hóa ra lại không biết. Chúng tôi chào nhau sau lời giới thiệu bằng một cái gật đầu nhẹ, như một sự đồng thuận sẽ đồng hành cùng nhau trong vài ngày tới.
Mọi người ăn bánh mì xong, thì chúng tôi cùng nhau bắt xe đến Hội quán Phúc Kiến. Triển lãm giấy Dó đã đóng cửa, nhưng vẫn có thể tham quan hội quán từ cửa hàng cạnh bên. Đằng sau khu vực trưng bày sản phẩm thủ công là khoảng sân rộng yên ắng. Tiếng ồn nô nức ngoài phố thị loãng dần, để lại sự tĩnh mịch âm ỉ nơi thời gian chảy trôi.
Ở Hà Nội, tôi luôn cảm thấy có một dòng chảy khác, len lỏi giữa nhịp sống nô nức bận rộn. Như sương như khói, nhưng vẫn hiện diện. Cảm giác man mác, hoài niệm vẫn tiếp tục âm ỉ sau đó.
Rời khỏi Hội quán Phúc Kiến, chúng tôi mỗi người một cây kem, thả bộ dạo quanh hồ Tây.
Trải qua ngàn năm thăng trầm, hồ nước vẫn còn đây, giữa lòng đô thị sầm uất.
Anh Thuận đi gần tôi, chầm chậm kể rằng, hồi trước khi anh còn làm ở Hà Nội, nếu xong việc sớm, anh sẽ đi dạo quanh hồ. Nhà anh ở Bắc Ninh, chỉ cách Hà Nội hơn chục cây, nên đôi khi anh sẽ chạy thẳng một mạch về nhà.
Vậy mà đã 8 năm. Chỉ chớp mắt thôi mà bao đổi thay. Anh giờ đây đã từ bỏ cuộc sống phấn đấu ở thủ đô, đi khắp nơi, để rồi dừng chân ở núi rừng.
Tôi nhìn cành cây in bóng xuống mặt hồ. Bao người đã đi qua, in dáng hình xuống mặt hồ, có người ở lại, có người rời đi, cũng có người trở lại ghé thăm như anh.
Chúng tôi tiếp tục đi bộ đến Lăng Bác và Tòa nhà Quốc hội.
Từ hồ Tây ngàn năm tuổi, đến Lăng Bác, rồi tòa nhà Quốc hội, dòng chảy lịch sử ngân vang. Vật đổi sao dời, bao thành trì, bao chế độ, cho đến ngày hôm nay.
Suốt con đường Độc Lập, chúng tôi kể nhau nghe những bí sử, những giai thoại xung quanh hai công trình kiến trúc này. Những câu chuyện lưu truyền, pha lẫn màu sắc huyền bí, và thậm chí suy đoán chủ quan, khơi gợi trí tò mò được lưu truyền suốt chục năm nay. Đến tai chúng tôi, hẳn cũng không ai còn biết nguồn gốc của những câu chuyện này từ đâu.
Đi đến Phủ Chủ tịch, dọc con đường rải rác quả chò nâu. Chúng tôi nhặt vài quả, chọn quả có cánh nâu đỏ rực thảy lên trời. Cánh chò xoay tít trong gió, và đáp xuống đất khẽ khàng.
Hình ảnh tôi còn nhỏ xíu mân mê quả chò chợt hiện về. Một ký ức mờ nhạt, không còn nhớ rõ là lúc nào, được cơn gió thổi đến, đưa tôi đi chơi vơi giữa đêm tháng 4 vằng vặc. Ở phía sau thầm thì tiếng chị T kể chuyện cùng anh Tâm, còn phía trước lanh lảnh tiếng cười đùa của N cùng anh Vũ, cùng hòa quyện trong âm thanh gió hát qua từng tán cây.
Bước chân cả nhóm in dấu trên lá vàng suốt quãng đường đến Tranquil Books & Coffee. Mọi người trong nhóm còn đùa nhau rằng, đang hè mà cứ ngỡ như thu, thời tiết thật thuận lợi cho chuyến đi dài ngày sắp tới.
Đang cười đùa, chúng tôi đều tự động nhỏ tiếng lại khi vào bên trong khuôn viên quán cà phê. Quán nép mình trong một căn biệt thự cổ, và dường như chủ nhà vẫn sống và sinh hoạt ở đây, nên không khí càng thêm im ắng. Quán đông khách, nhưng mọi người đều nói chuyện nhỏ nhẹ, nghe lao xao xào xạc trong gió.
Không gian ngoài trời đã kín chỗ, nên chúng tôi được đưa vào một căn phòng nhỏ đầy sách bên trong.
Mắt tôi chợt dừng lại trước bức tranh chữ trên tường, trích lời của sư Thích Nhất Hạnh.
When another person makes you suffer, it is because he suffers deeply within himself, and his suffering is spilling over. He does not need punishment; he needs help. That is the message he is sending.
Tôi dừng trước bức tranh thật lâu trước khi ngồi xuống bàn cùng mọi người. Khi ngẩng lên, tôi lại nhìn thấy một bức tranh chữ khác, cũng trích lời của sư Thích Nhất Hạnh.
For things to reveal themselves to us, we need to be ready to abandon our views about them.
Từ giây phút đó, tôi không tập trung mấy vào cuộc trò chuyện của mọi người nữa.
Cảm giác đắng nghét, dồn ứ, mà không thể trút bỏ hoàn toàn chợt dâng lên. Tin nhắn trong điện thoại tới tấp, cuộn trào cơn giận âm ỉ trong lòng.
Trước lời của sư, tôi thấy lồng ngực mình mở toang hác, buộc tôi phải nhìn thấy vết thương cũ. Vết sẹo mà tôi che giấu với cả chính mình.
Khuôn mặt của kẻ làm tôi tổn thương chồng lên những khuôn mặt khác trong quá khứ.
Không phải tôi không thấy kẻ làm tổn thương tôi có vấn đề riêng của họ, nhưng tôi đã từng không mong muốn gì hơn ngoài trả đũa. Khiến họ đau đớn sẽ làm vơi đi cảm giác lửa đốt trong lòng.
Tôi không chỉ giận dữ với họ, tôi giận chính mình.
Tôi tự dày vò mình như thế, rồi lại kìm nén trong tội lỗi vì đã nung nấu những ý nghĩ đó.
Trước khi chìm vào giấc ngủ đêm đầu tiên, tôi đã nghĩ: “Liệu tôi có khả năng tha thứ cho họ, để rồi tha thứ cho chính mình hay không?”
Tôi đặt báo thức, dậy từ 6 giờ sáng. Đêm hôm trước, tôi đã xếp gọn đồ trong hành lý, nên sáng hôm sau chỉ cần vệ sinh cá nhân, thay đồ là sẵn sàng.
Anh Tâm báo xe đang đến, nên tôi vội trả phòng, kéo vali đi bộ ra đầu hẻm. Vừa đến nơi thì xe cũng vừa tới. Xe đi một đoạn, rồi dừng đón người đồng hành cuối cùng của đoàn trước khi di chuyển theo lịch trình.
C bước lên xe, một chút thu mình, một chút nhẹ nhàng. Cũng giống N, tôi đã gặp C qua chữ, và đây cũng là lần đầu tiên gặp mặt. Cảm giác vô tình biết một điều gì đó về một người xa lạ, và đây là lần đầu tiên gặp họ khiến tôi bồn chồn.
Suốt quãng đường hơn một tiếng đến chùa Bổ Đà, tôi đeo headphone cách âm và nghe đi nghe lại Escapism của Raye.
“Cause I don't wanna feel how I did last night
I don't wanna feel how I did last night
Doctor, doctor, anything, please
Doctor, doctor, have mercy on me, take this pain away
You're asking me my symptoms, doctor, I don't wanna feel”
Anh Thuận ngồi ở ghế phụ trước, bảo đoàn là đến chùa Bổ Đà rồi, ngắt tôi khỏi dòng suy nghĩ hỗn độn.
Tôi bước xuống xe, nhìn về phía nơi từng là một trung tâm Phật giáo lớn của đất nước. Chùa Bổ Đà được xây từ thời Lý thế kỷ 11, và được trùng tu, xây mới thêm vào đời Lê. Vì không phải dịp rằm, nên chùa vắng vẻ, chỉ lác đác vài du khách. Thông thường khi chùa thưa người, ta sẽ dễ dàng cảm nhận được khí tức linh thiêng, nhưng ở đây lại có phần nhạt nhòa.
Tôi có hỏi, thì được các anh giải thích về thịnh suy của Phật giáo. Đạo Phật ở miền Bắc đã đạt đến đỉnh cao thời các vua Trần, nhưng giờ đây đã bước vào giai đoạn thoái trào. Hiện tại, các sư không còn tu tập tại các chùa như trước, mà mỗi chùa thường chỉ có 1 sư trụ trì để trông coi di tích.
Điều tôi cảm nhận rõ ràng nhất là dòng chảy xưa cũ được gìn giữ cẩn mật qua phong cách thiết kế “nội thông ngoại bế” (bên ngoài khép kín, bên trong liên hoàn) của chùa. Các gian đều liên thông, tạo nên bầu không khí u tịch, ngăn cách với thế giới bên ngoài. Xung quanh chùa là tường đất cao, được làm từ đất đá trong khu vực, với đỉnh được làm từ gốm, chum vại từ Thổ Hà. Bên ngoài là hàng tre và tán cây cổ thụ hàng ngàn năm tuổi.
Tôi đặc biệt ấn tượng với một cây cổ thụ lớn ở lối ra khu nội tự, với rễ phụ cây phát triển từ cành, rủ xuống đất và cắm sâu tới tận bên kia, mọc lên một thân cây khác tạo thành hình dáng một cái cổng. Đây là hiện tượng cây “di chuyển”. Khi đến một độ tuổi nhất định, cổ thụ sẽ tiến hành thay thân. Thân chính sẽ dần mục nát, thay vào đó các rễ phụ sẽ bám xuống đất, và phát triển thành thân mới.
Tôi tự lẩm bẩm, ngài cổ thụ hẳn ở đây bảo vệ chùa, chứng kiến giai đoạn thịnh suy của một hệ tư tưởng tâm linh từ rất lâu rồi.
Hàng trăm năm trước, các sư đã sinh sống, tu tập và truyền bá Phật giáo tại đây, trong chính không gian khép kín này. Hẳn có rất nhiều sư đã gắn bó trọn đời tại đây, từ lúc là một Sa di, đến khi trở thành 1 vị Tỳ kheo, và khi viên tịch, được chôn cất tại vườn tháp. Nhìn qua khe cửa kho lưu giữ mộc bản, tôi tưởng tượng đến việc chạm khắc từng dòng kinh trên các bản gỗ, rồi được dùng cho việc in ấn để lưu truyền khắp đất nước.
Một thời hoàng kim là thế, nhưng giờ lớp bụi mờ thời gian đã bao phủ nơi đây. Điều còn lại chỉ là vết tích xưa, phần nào lu mờ đi nét trang nghiêm, thanh tịnh từ hàng trăm năm trước.
Tôi tìm chỗ ngồi nghỉ trong gian nhà gần cổng vào, thu vào tầm mắt mọi cảnh vật.
Gió ban trưa xào xạc, thổi lá vàng rơi đầy sân chùa.
Trong tiếng chuông gió ngân vang,
lòng tôi thẫn thờ, lâu thật lâu.
.
Sau khi dùng bữa trưa, cả đoàn di chuyển đến chùa Vĩnh Nghiêm. Chùa được xây từ thời Lý, và trở thành “cái nôi” của thiền phái Trúc Lâm vào thời Trần.
Tối qua, tôi đã kịp xem trích đoạn của sư ông Trúc Lâm, và phần giải thích về Thiền phái Trúc Lâm trong tuần du ký, nên cũng nắm được phần nào về tinh thần “Cư trần lạc đạo”. Tư tưởng của thiền phái cho rằng đạo và đời không có sự phân biệt. Khi ta sống trọn cuộc đời này, ta vẫn có thể ngộ đạo. Và ngược lại, tu hành không nghĩa là lánh đời.
Chính tại danh lam cổ tự này, ba vị “Trúc Lâm tam tổ” (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) đã thuyết pháp và đào tạo tăng ni cả nước. Phật giáo thời này đạt đỉnh cao, không chỉ dành riêng cho giới tăng ni hay quý tộc, mà phổ biến toàn dân. Tinh thần cởi mở, xem mọi vật tồn tại trong mối liên hệ tương quan, không tách rời, được phát triển trên kinh Hoa Nghiêm, đã đặt nền móng cho một hệ tư tưởng lớn của đất nước.
Phật giáo thời Trần đã phát triển cực thịnh tại đây.
Người xưa có câu:
“Thứ nhất là chùa Đức La (cũng tức là chùa Vĩnh Nghiêm)
Thứ nhì chùa Bổ, thứ ba chùa Tràng".
Nhưng khi tôi đến đây, vị thế xưa gần như không còn. Khí tức linh thiêng dường như có phần còn nhạt nhòa hơn so với chùa Bổ Đà.
Tôi ngước nhìn lên những họa tiết trang trí tinh xảo trên cửa võng, chợt nghĩ, cả một công trình rộng gần 10.000 m2, người xưa đã dành bao lâu của cuộc đời có thọ mệnh ngắn ngủi để hoàn thành việc xây chùa?
Bao tâm huyết hun đúc, cũng theo thời gian mà nhạt nhòa. Ngày nay, chùa được xem như di tích tham quan hay chốn thờ cúng.
Lúc ngồi ở chính điện (Tam Bảo), tôi nói với anh Tâm, không hiểu sao tôi thấy buồn.
Anh nhìn tôi cười hiền, hướng mắt về các Tượng Phật được bài trí theo quy chuẩn của Phật giáo Bắc tông. Tôi cũng không nói gì thêm, theo anh, bày tỏ lòng cung kính trước Phật.
Bắc Tông hướng đến "độ tha" (Đại thừa), nên thờ đa dạng Phật (A Di Đà, Dược Sư) và Bồ Tát (Quan Thế Âm, Địa Tạng) để thể hiện lòng từ bi. Mỗi pho tượng là một tư thế, nhưng đều toát lên vẻ từ bi hỷ xả.
Các vị Phật, các vị tổ hẳn luôn bao dung, chấp nhận sinh diệt như một điều tất yếu.
Thật ra chỉ có tôi đang chấp nhặt sự đổi thay.
Tôi nhắm mắt, tự nói với mình, Phật có muôn vạn dáng hình, Phật trong ta, trong người, trong vạn vật.
.
Rời chùa, chúng tôi di chuyển đến công viên Hoàng Hoa Thám để cùng ngồi lại, chia sẻ về ngày đầu tiên.
Chúng tôi chọn một chỗ ngồi khuất để cắm trại. Trong lúc thưởng trà, chúng tôi ngồi vòng tròn nói về trải nghiệm hôm nay, cũng như nghe anh Tâm kể về thiền phái Trúc Lâm.
Chuyện dứt, anh Vũ đưa một phong thư có đựng câu hỏi mang tính tương quan với tinh thần của ngày hôm đó. Mỗi người sẽ lần lượt chọn một lá thăm, đọc to câu hỏi và trả lời. Những người còn lại sẽ lắng nghe, và nếu có thể, hỏi hoặc trao đổi thêm, giúp mở rộng góc nhìn của bản thân người trả lời.
Ngày hôm đó, chủ đề là về “bản khắc” trong tâm hồn.
Tôi còn nhớ C ngồi cạnh tôi đã nói gì. Khi trả lời câu hỏi của mình, C nói rằng, trước khi đến Hà Nội, bạn đã nổi giận với đồng nghiệp mà không che giấu.
Các anh cười, vì đây là một bước tiến lớn để C bắt đầu thể hiện và nói ra nhu cầu thực sự của mình.
Trong tôi thoáng giật mình. Vì tôi nghĩ ngay đến những người tôi đang giận. Càng giận, tôi càng kiềm nén, giữ lại cho đến khi bùng nổ ở thời khắc không mong muốn nhất.
Và cũng tình cờ, câu hỏi của tôi là “bản khắc” nào trong quá khứ tôi còn mang theo.
Tôi chia sẻ với mọi người về những điều tôi nghĩ tối qua. Rằng đó là cơn giận. Tôi nhận ra tôi không giận bất cứ ai nhiều bằng chính bản thân mình. Và tôi đang học cách tha thứ cho mình trước.
Giọng tôi thoáng run nhẹ, vì tôi chưa bao giờ chia sẻ bằng lời vấn đề này, mà thường chỉ nghĩ. Lời nói vừa được thốt ra, hình ảnh của một cô bé xuất hiện. Tôi bỗng hiểu tại sao. Cơn giận chỉ là một phần. Cô bé trong tôi đã luôn sợ hãi. Dù cố gắng thế nào, em vẫn đang làm sai. Khi nhìn thấy em, tôi phải đối diện với nỗi sợ hãi cực độ. Nỗi sợ hãi vì đã để lộ bản thân mình.
Lúc bước ra xe để về lại khách sạn, tôi nói với cô bé nhỏ trong tôi, an ủi em như cách mọi người nói với tôi. Tôi đang bước đến gần em, mong em hãy kiên nhẫn.
Trên quãng đường đến Yên Tử, anh Thuận nói với đoàn rằng, đường đi giờ đây đã dễ dàng hơn trước nhờ du lịch tâm linh phát triển. Trước đây, khi khu vực Tây Yên Tử còn hoang sơ, muốn lên chùa Đồng ở đỉnh Yên Tử, Phật tử hành hương phải đi bộ đường rừng, vượt núi và suối cạn.
Nhưng kể cả vậy, hẳn vẫn an toàn và dễ dàng hơn nhiều so với thời của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Đỉnh núi Yên Tử chỉ cao tầm 1.068 mét so với mực nước biển, nhưng địa hình lại hiểm trở, sương mù bao phủ quanh năm.
Hàng trăm năm trước, ngài đã nghĩ gì khi từ bỏ hành cung Thiên Trường để tu hành khổ hạnh ở chốn núi non này, tôi thầm nghĩ trong lúc bước lên từng bậc thang dốc.
Chúng tôi đến Yên Tử vào ngày giỗ đệ nhị Tổ Pháp Loa, lại ngay vào Chủ Nhật, nên đường hành hương khá đông, các trạm dừng đều tấp nập khách nghỉ ngơi, ăn uống. Đi được nửa đường, tôi nghe một nhóm khách nói với nhau, nhờ các tổ xây chùa khắp Yên Tử mà cả 3 tỉnh, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương đều được nhờ cậy.
Tôi đã thấm mệt khi đến được Bảo tượng Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, dù đi bộ khá chậm. Phía trước là đoàn hành hương đang tụng kinh lễ Phật, nên nhóm chúng tôi bảo nhau nghỉ ngơi một chút ở đây, rồi tiếp tục di chuyển.
Giữa mây mù, bảo tượng Phật Hoàng bằng đồng khổng lồ, toát lên nét mặt an nhiên, tự tại, đôi mắt khép hờ, nhưng thần thái thấu suốt. Ngài như thấy tất cả, hiểu tất cả và chấp nhận tất cả.
Lúc leo lên đến chùa Đồng, chúng tôi nghe tiếng đọc kinh vang vọng, cùng tiếng người, già trẻ lớn bé rầm rì nói chuyện, cầu nguyện, hướng về sự linh thiêng nơi đất Tổ Phật giáo nước Việt.
Trong lúc tôi đi dạo xung quanh, tôi để ý có rất nhiều khách hành hương không chỉ nhét tiền, mà còn dùng tiền, hay bùa hộ mệnh để chà xát lên chuông, khánh đồng. Hiếm khi tôi thấy việc này nên khá ngạc nhiên.
Anh Thuận từ tốn giải thích trên đường từ chùa Đồng xuống chùa Một Mái. Theo quan niệm dân gian, việc xoa tiền và giữ lại trong ví sẽ mang đến tài lộc, thuận lợi trong công việc và cuộc sống. Ở miền Bắc, người dân thường hành hương lên Yên Tử hay chùa Hương cầu bình an tài lộc vào mùa xuân. Tuy giờ đã có cáp treo, để bày tỏ lòng thành, nhiều người vẫn đi bộ từ chân núi lên đỉnh.
C bày tỏ, bạn cảm thấy choáng ngợp vì nỗi đau khổ ở xung quanh quá lớn.
Anh Tâm không trả lời ngay, mà nói với chúng tôi điều mình vừa quan sát, có 2 cô lớn tuổi đã đọc kinh rất lâu trước chùa Đồng. Trước khi chúng tôi đến, 2 cô đã quỳ ở đó, và đến khi chúng tôi chuẩn bị rời đi, lời kinh vẫn vang lên khẩn thiết.
Anh Thuận cũng vừa thấy một bà mẹ xoa tay vào chùa Đồng và chà sát lên đứa con, với niềm hy vọng đứa bé sẽ khỏe hơn.
Với nhiều người, niềm tin là điều duy nhất còn sót lại khi bế tắc. Ít ra họ còn giữ lại một điều gì đó để bám víu.
Trong thâm tâm, tôi có phần kỳ vọng sẽ tìm được sự thanh tịnh, trang nghiêm ở Yên Tử. Nhưng giữa ngàn mây, tôi lại chứng kiến nỗi đau của hàng trăm người ở nơi được mệnh danh là linh thiêng nhất Việt Nam.
Khi vùng đất ta đến, con người ta gặp vẫn còn khổ đau, việc che mắt mình và khát cầu một điều gì khác, có lẽ chỉ khiến ta thêm dằn vặt, mâu thuẫn.
Chúng tôi im lặng suốt quãng đường đến chùa Một Mái. Rất lâu về trước, chùa chỉ là một thảo am, được Phật Hoàng chọn làm nơi đọc sách, soạn kinh. Sau này, am được xây thành chùa, kết hợp hài hòa giữa hang động đá tự nhiên và mái ngói lộ thiên. Từ chùa Một Mái, chúng tôi đi một quãng nữa là đến chùa Hoa Yên và Vườn Tháp Huệ Quang. Tọa lạc ở trung tâm Vườn Tháp là Tháp Tổ, lưu giữ một phần xá lợi Phật Hoàng, với tầng hai đặt tượng đá thờ ngài trong tư thế ngồi thiền.
Tôi nhắm mắt, bày tỏ lòng cung kính trước tượng Phật Hoàng, để những mong cầu, khổ đau được nhìn thấy và chấp nhận.
..
Hai bắp đùi tôi bắt đầu đau nhức sau khi dùng bữa tối. N cũng đang xoa kem giảm đau cơ cho bàn chân. Cả đoàn ít nhiều đều đuối sức, mỏi mệt sau một ngày dài leo núi, nhưng tất cả mọi người đều ngồi lại đến tận khuya.
Tối hôm đó, ở sân hiên trước cửa phòng, chúng tôi đã nói chuyện thật lâu giữa tiếng nước suối chảy róc rách và tiếng côn trùng.
N bốc trúng câu hỏi: “Trạng thái bạn mong muốn đạt được là gì?”. Và câu trả lời của N là bạn hạnh phúc khi nhìn người khác được giác ngộ.
Đến ngày thứ 3 thì tôi đã phần nào tiếp xúc nhiều hơn các bạn đồng hành của mình.
N mảnh mai, nữ tính, lúc nào cũng như một cô em nhỏ của 3 anh trong chuyến đi. Lúc đi chơi thì là vậy, nhưng thường ngày, bạn chỉ tận tâm cống hiến cho công việc. Xong việc ở bệnh viện, bạn sẽ chạy qua phòng khám đến hết ngày. Quanh năm hiếm khi bạn nghỉ ngơi, mà sẽ tất bật từ bệnh viện đến phòng khám để chăm sóc bệnh nhi. Hiếm hoi có dịp du lịch dài ngày, bạn sẽ chuẩn bị một vali với quần áo mới phù hợp cho chuyến đi, thậm chí còn đem theo bàn ủi để đảm bảo quần áo luôn thẳng thớm, thơm tho.
Còn chị T lại là một người phụ nữ tháo vát, tác phong nhanh nhạy. Là mẹ, và cũng là người lo toan trong gia đình, trên vai chị luôn bộn bề trách nhiệm. Sự hiện diện của chị tựa một cơn bão, mạnh mẽ, dữ dội.
Cũng trùng hợp khi câu hỏi của chị T là về “triều đình” mà chị ấy từ bỏ, như Phật Hoàng chọn bỏ lại phía sau cung vàng điện ngọc để tu hành ở Yên Tử. Chị kể rằng, trước đây đã quen với việc lo toan mọi thứ, từ lúc tỉnh dậy, đến khi nhắm mắt. Một thời gian dài như thế, chị dần đồng hóa trách nhiệm với chính mình. Đã từng phải trăn trở rất nhiều, nhưng đến thời điểm buông tay, chị thấy nhẹ.
Và cuối cùng là C, người bạn cùng phòng với tôi đêm nay. C có vẻ ngoài rất dễ chịu, nhất là khi bạn cười. Hôm đó, C chia sẻ về việc bạn thường hoàn thành tốt, đáp ứng được kỳ vọng từ gia đình lẫn môi trường công việc, nhưng trong thâm tâm, bạn không hề thấy thoải mái. Trước chuyến đi, sếp lớn bạn có nói chuyện riêng, và kỳ vọng bạn sẽ tiếp tục thăng tiến trong tương lai. C nói rằng, phát triển trong nghề nghiệp hiện tại không phải là điều bạn hướng về, bạn mong được chuyển hướng sang lĩnh vực giáo dục vào một ngày nào đó.
Anh Tâm lúc này mới cất lời, nơi mình đứng luôn là nơi phù hợp nhất ở thời điểm hiện tại.
Như con đường của Trần Nhân Tông vậy. Ngài đã muốn xuất gia từ khi còn bé. Năm 16 tuổi, ngài đã từ chối ngôi vị Hoàng Thái tử, và thậm chí từng bỏ trốn để tu hành. Thế nhưng, trước trách nhiệm với giang sơn xã tắc và gia tộc, ngài chấp nhận quay về gánh vác và lên ngôi hoàng đế năm 21 tuổi. Trong thời gian ngài trị vì, đất nước đã trải qua hai cuộc xâm lăng khốc liệt. Ngài cùng Thượng hoàng Trần Thánh Tông , Hưng Đạo Vương và các danh tướng khác đã lãnh đạo Đại Việt giành chiến thắng trước đội quân Mông-Nguyên.
Chỉ đến lên làm Thái thượng hoàng, hỗ trợ vua Trần Anh Tông trên ngai vàng, chính nỗi đau đáu trăn trở, tìm cho Đại Việt một hướng đi xây dựng nội lực tự cường, thì con đường xuất gia tu hành một lần nữa mới mở ra.
Chính tại thời điểm này, Phật hoàng mới chính thức xuất gia, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Suốt 9 năm cho đến khi viên tịch, ngài đi khắp nơi thuyết pháp, nhờ vậy tinh thần Phật giáo hòa quyện trong mạch nguồn dân tộc, đưa đời sống văn hóa và tâm linh người dân Việt thăng hoa.
Anh Tâm đúc kết, chuyện gì đến cũng có lý do của nó. Ở trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc đời, ngài cũng sống trọn vẹn.
Chúng tôi cùng cười bảo nhau, biết đâu nếu ngài xuất gia từ sớm, nước ta đã chẳng có Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Vòng trà lúc này đến lượt anh Vũ, người đàn ông ít nói nhất nhóm. Anh Vũ chầm chậm nhắc về quá khứ, khi mỗi lời anh nói ra, đều có thể làm tổn thương đối phương. Gần đây, anh có vẻ đã vượt qua chuyện đó, anh suy nghĩ kỹ hơn, và giữ lại trong lòng nếu thấy không phù hợp.
Anh Thuận góp lời, nhưng biết đâu điều tổn thương lại là lời cần nói thì sao. Việc em suy nghĩ quá kỹ càng trước khi thổ lộ, hay giữ kín trong lòng, chính em và đối phương đều không thấy thoải mái. Có thể em đã nhìn nhận và thấu suốt được tập tính này, nhưng tập tính chồng tập tính, có một tập tính khác đang buộc em phải đối diện.
Anh Vũ không nói gì, im lặng suy nghĩ.
Đêm càng về khuya, trời càng trong, chúng tôi ăn bánh đậu xanh, tận hưởng không khí tĩnh lặng ở Làng Nương Yên Tử.
Đến lượt tôi đọc câu hỏi của mình: “Điều gì đã giữ tôi lại?”
Tôi nói thành lời những suy nghĩ chất chứa, đó là cảm giác chính bản thân tôi không xứng đáng. Cảm giác bản thân không xứng đáng này bén rễ sâu trong tôi, và biểu hiện ra bên ngoài theo nhiều cách khác nhau, có thể là nỗ lực chứng tỏ bản thân mình, có thể là giận dữ, có thể là xấu hổ. Nhưng chung quy, gốc rễ chỉ có một.
Anh Tâm hỏi mọi người xung quanh, K sợ người khác thấy mình, vậy thì mọi người thấy thế nào.
Anh Vũ nhìn thấy bản thân mình cách đây vài năm trong tôi. Vậy nên anh biết rằng, cứ để tôi thoải mái trong không gian của mình, khi cần, tôi sẽ tự tìm đến.
Anh Thuận tiếp lời, cảm giác bản thân không xứng đáng không phải điều dễ dàng vượt qua. Và anh hiểu việc đó, vì chính anh cũng vậy.
Sau đó, chúng tôi còn ngồi lại nói chuyện một lúc nữa trước khi anh Tâm bảo mọi người nên đi ngủ. N vẫn còn sức, háo hức muốn nói chuyện về tình yêu, tiếp nối câu chuyện về góc khuất nghề nghiệp tối hôm qua, khiến anh Thuận cứ trêu là thật ra N đang muốn chia sẻ, nên phải mượn cớ mà thôi.
Tuy vẫn cố gắng nán lại một lúc, nhưng rồi cả nhóm ai cũng về phòng người nấy, trả lại sự tĩnh lặng cho màn đêm.
Mọi người đã đi từ lâu, nhưng tôi nằm một lúc mà mãi không chợp mắt được. Tiếng thở đều đặn của C ở giường đối diện bắt đầu vang lên đều đặn, còn bắp đùi tôi đang buốt nhói lên từng cơn. Không có cơn đau này thì tôi đã không đến được đỉnh Yên Tử, nhưng quả thật lâu rồi tôi không cảm thấy đau đến vậy.
Hơn một giờ sáng, nước mắt tôi chợt ứa ra, không rõ vì cơn đau bắp đùi, hay còn vì điều gì khác.
Ngồi cáp treo từ Làng thiền Ngọa Vân đến quần thể di tích trên núi Bảo Đài, cả nhóm quan sát từ trên cao chỉ thấy màu xanh trùng trùng điệp điệp, xen kẽ sắc hoa rừng nở rộ trong sương mờ. Tọa lạc ở vòng cung Đông Triều, với phía Bắc được che chắn bởi dãy núi cao, nên hơi ẩm từ biển thổi vào bị chặn lại, ngưng tụ thành mây, khiến cho sườn núi phía Nam, trong đó có đỉnh Ngọa Vân quanh năm mây phủ. Vì vậy, nơi đây được người xưa gọi là Ngọa Vân.
Khác hẳn Yên Tử đông đúc hôm qua, Ngọa Vân huyền bí không một bóng khách. Suốt quãng đường đi bộ đến chùa Ngọa Vân Trung, chúng tôi nghe tiếng thông hát trong gió xào xạc. Ở một khúc quanh, anh Vũ không ngừng trầm trồ, liên tục chụp ảnh cây bồ đề vươn mình, tô điểm lá vàng trên nền trời xám.
Không khí trong lành, thoáng đãng khiến anh Tâm đi ở phía trước, thỉnh thoảng cứ ngân nga, ôi ở nơi đây thích quá, thích quá đi mất. Dọc đường, chúng tôi còn bắt gặp một chú chim bồ câu đen tuyền, bị ướt ở phần lông cổ và đỉnh đầu. Chú đi loanh quanh, như đang chờ ai, phía sau là hạt gạo rải rác mà hẳn một vị sư nào đã để lại.
Chúng tôi cũng tình cờ gặp hai bạn trẻ vượt núi đến chùa. Các bạn cho hay, xuất phát từ chân núi thì đoạn đường sẽ khoảng 3 km, mất tầm hơn 2 tiếng để đến nơi. Anh Tâm nói với nhóm, nếu có dịp, anh muốn tự đi bộ cả đoạn đường thay vì dùng cáp treo xem sao.
Ở đây “sương khói mờ nhân ảnh”, không thấy rõ mình, cũng không thấy rõ ta.
Những bộn bề, phân định khác biệt cũng mờ dần, được bỏ lại sau mỗi bậc cầu thang đến chùa Trung. Leo lên tận nơi, chúng tôi thấy mấy chú chó chạy ùa ra, trong đó, có một chú khập khiễng 1 chân, nhưng mắt rất sáng. Các chú đi theo đàn, nên tiếng sủa vang to, và dường như là âm thanh sống động duy nhất ở nơi cô tịch này.
Chúng tôi sau đó men theo con đường nhỏ lát đá, tiếp tục đi bộ lên cao. Chùa Ngọa Vân Thượng không có ai, nên sau khi lạy Phật, chúng tôi chọn dừng chân ở đây. Trong không khí tĩnh mịch linh thiêng, tiếng anh Thuận dẫn thiền đưa tôi về vùng ranh giới mơ hồ, như có như không. Tôi nửa tỉnh nửa mê, thấy vô vàn ảo ảnh, lóe lên rồi vụt tắt. Trong mơ màng, tôi nghe tiếng N đọc Chú Đại Bi, và giọng anh Tâm thầm thì, mọi người chỉ cần nghe thôi, không cần hiểu, để cơ thể và tâm trí mềm ra.
Bên ngoài, tiếng mưa rơi đều đặn trên mái chùa, nơi sân hiên.
Đến khi mở mắt, đầu óc tôi mơ màng, như vừa trải qua giấc mộng dài.
C đau lưng, còn chị T thì mệt, nên chỉ còn 5 người leo lên Bàn Cờ Tiên vời vợi. Đến đỉnh, chúng tôi chỉ còn thấy màn sương mù dày dặc, che phủ hoàn toàn tầm nhìn xa hơn một gang tay. Tôi chọn 1 tảng đá bằng phẳng để ngồi chiêm ngưỡng cảnh vật xung quanh.
Theo sử xưa, chốn thần tiên này được Phật Hoàng Trần Nhân Tông chọn làm chốn tu tập những năm tháng cuối đời và nhập Niết Bàn. Đức Phật Hoàng đã gọi con dốc lên Bàn Cờ Tiên là dốc “Khôi nguyên”, con dốc tới đỉnh cao trí tuệ, của thành tựu đạt cảnh giới Giác Ngộ. Tương truyền ai lên được đến đỉnh, với tâm thức thiện lành thì ý nguyện tốt đẹp sẽ được tương trợ, hữu duyên mà thành.
N và anh Thuận thì ngồi thiền, hướng mặt ra phía màn sương. Anh Vũ như mọi khi, đang lưu giữ lại mọi khoảnh khắc trong ống kính máy ảnh. Còn anh Tâm, tôi cảm thấy anh đang vui như một đứa trẻ trở về nhà vậy.
Không rõ giai thoại thực hư ra sao, nhưng với tôi, chỉ như thế này thôi, cũng đã đủ rồi.
…….
Trời về chiều trở gió lồng lộng. Tiếng chuông gió, chuông chùa đồng thanh ngân vang giữa đất trời.
Trước khi rời Làng Nương Yên Tử trưa nay, chúng tôi đã trò chuyện bên bờ suối. Các anh đã gợi mở, giúp N dũng cảm kể câu chuyện tình yêu của mình. Đó là một câu chuyện tình đẹp. Suốt thời gian quen nhau, cả hai không ngừng giúp nhau trong sự nghiệp và cuộc sống, thậm chí N đã nghĩ đến chuyện lập gia đình sau khi tốt nghiệp nội trú. Chỉ là tình cảm đẹp đẽ đó, khi kết thúc lại trở thành vết thương sâu với N.
Chủ đề nói chuyện buổi tối là bùn và sen, như một sự tiếp nối cho câu chuyện dang dở ban sáng.
Sư Thích Nhất Hạnh đã giảng rằng, nơi nào không có bùn thì không có sen. Khổ đau và hạnh phúc nương vào nhau. Chạy trốn khổ đau để đi tìm hạnh phúc như đi tìm hoa sen ở nơi không có bùn.
Có lẽ vì vậy mà tuần trà lần thứ 3 đã thành một đêm vỡ òa.
Lúc đầu, khi N đọc câu hỏi của mình, bạn đã không trả lời được. Đó là một câu hỏi nhận biết về bản thân. N luôn gặp khó khăn để trả lời thẳng thắn những câu hỏi tương tự suốt những buổi vừa qua.
Các anh dường như cũng cảm nhận điều đó, nên anh Tâm cố gắng gợi mở, giúp N đối diện bằng cách động viên mọi người hãy chia sẻ suy nghĩ của mình.
Và vì tôi là người ngồi kế N hôm đó, nên tôi phải nói đầu tiên.
Thật ra, từ khi nghe câu trả lời của bạn vào đêm hôm trước ở Làng Nương Yên Tử, tôi đã cảm thấy hơi chộn rộn. Đây là một cơ hội nói ra điều cần nói, nhưng một mặt khác, tôi lại cảm thấy không chắc chắn.
Nhưng tôi buộc phải nói lời thành thật, trong bầu không khí cởi mở này.
Tôi cảm giác N đang ở trong một chiếc bong bóng, và mọi thứ khi được nhìn qua lớp bong bóng đều trông có vẻ lý tưởng hóa hơn so với thực tế. Không chỉ về người và vật xung quanh, mà cả về cảm xúc của chính mình.
Và mọi người đều cảm thấy thế.
N co gối lại, lặng người một hồi lâu, và khi lên tiếng, bạn thấy mình thật sai lầm vì đã chia sẻ quá nhiều. Để làm gì, và rồi mọi người đều nghĩ bạn giả tạo.
Bình thường, tôi hiếm khi thẳng thắn. Nhưng không hiểu sao, tôi đã lên tiếng ngay lúc đó rằng, mọi người không hề có ý chê trách N đang hành xử khác với những gì bạn nghĩ.
N chỉ đang vô thức thiết lập tiêu chuẩn cụ thể cho mọi thứ, và điều đó đang áp đặt, hạn chế bản thân bạn. Điều này cũng có thể là nguyên nhân khiến bạn gặp khó khăn trong việc biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của chính mình.
Tiếp theo là C.
Cô em gái nhỏ tuổi nhất nhóm.
Chỉ trong buổi tối hôm đó, tôi mới cảm giác được tiếp xúc với một C thật sự đằng sau vẻ ngoài dễ chịu ấy. Dù chỉ là một phần rạn nứt rất bé nhỏ, vô tình được hé lộ.
C tâm sự, bạn đã thấy lại hình ảnh bạn đang làm đau chính bản thân. Hình ảnh ấy lóe lên như một tia chớp giữa ngày mưa. Khi quá giận dữ, bạn từng làm đau mình để giải tỏa.
Ở chùa Ngọa Vân Thượng, bạn đã nói lời tạm biệt với hình ảnh ấy, và hy vọng đó là lần cuối cùng.
Bạn thủ thỉ, trong ký ức hồi bé, bạn nhớ có lần đã bị nhốt ở ngoài rất lâu. Bạn không biết mình đã làm sai điều gì, và bạn cứ đứng ngoài cửa khóc mãi, xin được vào nhà.
Thuở trước, bạn chạy trốn bằng cơn đau, và chìm trong bóng tối một thời gian dài. Giờ đây, bạn nhận thức được, những gì mình trải qua là nỗi đau liên thế hệ.
Chị T ngậm ngùi, giờ chị đã hiểu sao khi nhìn C, bản năng làm mẹ của chị lại trỗi đậy, muốn quan tâm, bảo vệ bạn hệt như một đứa con của chính mình.
N đã lên tiếng rằng, bạn luôn nhìn thấy khuôn mặt C trong màn sương mờ. Và N đã nhấn mạnh rằng, bạn hiểu cảm giác đó. Khi nỗi đau đớn bên trong quá lớn, bạn cũng từng như thế, làm đau chính mình.
Và 2 người họ nhìn nhau, đong đầy cảm xúc.
N và C, khi vừa tiếp xúc, đều cư xử chừng mực, lễ độ. Cả 2 đều có nền tảng gia đình vững vàng, và nghề nghiệp ổn định.
Nhưng hóa ra, cả 2 đều đã đứng giữa lằn ranh ấy. Giữa việc chấp nhận, hòa giải với nỗi đau để đi tiếp, hay buông xuôi bỏ cuộc trong màn đêm hoang hoác.
Tôi chợt nhớ ra, trong vòng trà đầu tiên, C đã lẩm bẩm rằng, khi bước vào điện thờ, bạn không hiểu nơi đây đang phụng thờ điều gì. Tôi không chắc mình có nghĩ quá không, nhưng ngay lúc đó, có điều gì đó đang nói rằng, C dường như không tìm thấy ý nghĩa của việc phải sống mỗi ngày.
Suốt 4 ngày qua, thấy đủ, nghe đủ, và cảm đủ, để rồi nhận ra ai cũng đau.
Chúng ta sinh ra ở đâu, thì sẽ đau ở đó.
Nỗi đau gắn liền với sự tồn tại, nối dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, trong một dân tộc và trong một đất nước.
Nhìn từ bên này, nỗi đau mênh mang, không thấy bờ bến.
Không biết ở tận cùng, nơi nỗi đau kết thúc sẽ còn lại điều gì.
Là sen, là cảnh giới Giác Ngộ, hay là hư vô?
Buổi sáng, chúng tôi cùng nhau rảo bộ, tìm chốn dừng chân trong rừng để kể nhau nghe về cuộc đời Phật Hoàng.
Khúc ca của thông lao xao trong cơn gió mát hiu hiu, dẫn lối đến khối đá lớn được sắp đặt như hình người ngay Phủ Am Trà. Trước kia, đây là nơi để thờ thần rừng, và cũng là nơi Phật Hoàng và các hành giả dừng chân nghỉ ngơi uống trà. Ngay gần đó, có một người đàn ông đang đốt lá khô trong chiếc lò nướng được ghép từ nhiều viên đá cỡ lớn. Anh thấy chúng tôi, chắp tay chào cung kính, và lấy nệm bên trong mời ngồi thưởng trà.
Khi chúng tôi yên vị, anh chỉ đứng xa xa tiếp tục công việc đốt lá. Anh Tâm cười nói với nhóm, gặp nhau xem như có duyên, mình mời anh ấy ngồi cùng nhé.
Anh tên T, là thị giả của một vị ẩn sĩ tu tập theo Phật giáo Mật Tông. Anh kể, hai thầy trò thường rong đuổi khắp nơi, nhưng rất hay dừng chân ở cụm di tích Ngọa Vân - Yên Tử. Khi ở đây, anh thường là người dẫn đường cho các đoàn hành hương đi bộ từ chân núi lên chùa. Có lần, hai thầy trò quyết định đu dây từ cáp treo xuống để tìm các giống hoa hiếm, rồi từ rừng men theo suối trở về lại khu nghỉ dưỡng.
Anh mỉm cười, tay chỉ những tảng đá lớn được xếp chồng lên nhau, nói hai thầy trò đã vác những tảng đá lớn ở suối về và sắp đặt ở đây. Thầy anh tuổi đã ngoài 50, nhưng là võ sư, nên rất khỏe, anh bảo, còn khỏe hơn cả anh.
Nói chuyện một lúc mới biết anh từng là sinh viên cùng trường và cùng khóa với anh Tâm. Trước khi quyết chí trở thành ẩn sĩ, anh từng kinh doanh, lăn lộn khắp nơi. Rồi cơ duyên mở ra, anh gặp người thầy hiện tại, được cảm hóa hướng về con đường tu hành. Anh sống giản đơn, không vướng víu vật chất. Thầy đi đâu, anh đi đó. Anh kể, hôm vừa rồi ra suối, lỡ đánh rơi điện thoại nên hư mất, giờ điện thoại anh đang sử dụng cũng là của người thầy.
Sau đó, anh Tâm còn hỏi thêm rất nhiều nữa, về đạo, về đời. Anh Tâm nói đoạn, đưa cuốn sách “Toàn tập Trần Nhân Tông”, nhờ anh T đọc một vài trích dẫn trong đó để cùng thảo luận. Anh Thuận và N thỉnh thoảng cũng góp lời vào câu chuyện.
Cuộc nói chuyện rất dài. Chúng tôi biết thêm được rất nhiều về đạo của anh, và cả cuộc sống cá nhân của anh trước khi tu tập. Chỉ có điều, trò chuyện cùng anh lâu đến thế, tôi vẫn không hình dung được nguồn năng lượng cụ thể nào từ anh. Tôi cảm giác như mình đang đối diện với một mặt phẳng cứng màu nâu. Càng biết thêm về anh, mặt phẳng ấy lại càng trở nên to lớn, nhưng tuyệt nhiên không thể mở ra bất cứ điều gì bên trong. Có những lúc, dù chỉ trong khoảnh khắc, tưởng chừng như anh Tâm đã đến rất gần việc đi xuyên qua mặt phẳng ấy.
Anh Thuận có nói, người tu theo Mật Tông, sẽ mang một niềm tin kiên định vào sự dẫn dắt của người thầy để chuyển hóa tâm trí. Họ sẽ buông bỏ bản ngã ương ngạnh, không bị cản trở, lạc lối trong sự hiểu biết hạn hẹp của bản thân.
Không đào sâu, không tự vấn, mà chỉ chấp nhận và tin tưởng. Có lẽ đây cũng là một con đường. Một con đường song song tôi không thực sự hiểu.
Gần giờ trưa, chúng tôi phải chuẩn bị rời đi để di chuyển đến chùa Côn Sơn. Anh Tâm trao tặng cho người bạn mới cuốn “Toàn tập Trần Nhân Tông” làm kỷ niệm buổi gặp gỡ hôm nay.
Khoảnh khắc chia tay, anh T đi chân trần, nhất quyết theo cùng đến tận khu nghỉ dưỡng để đưa tiễn. Khi xe khởi động máy, nhìn về phía sau, tôi vẫn thấy dáng hình anh, với đôi mắt chân chất, hồn nhiên trông theo.
Anh Vũ tức cảnh sinh tình, ngâm bài thơ sáng tác dở dang.
gió chạm vai áo
lá rơi không tiếng
đường trúc quanh co
mây phủ ngang thềm.
nắng qua đỉnh núi
không lưu dấu gì
lòng người cũng vậy
tròn rồi lại vuông.
tiếng mõ xa xa
rơi vào sương mỏng
một hồi hai nhịp
lan xuống lòng sâu.
suối khẽ ngân nga
róc rách không ngừng
nước đi thong thả
ôm đá ôm rêu.
đôi bồ câu nhỏ
dạo chơi chân núi
chạm nhau rất nhẹ
rồi lại rời đi.
lá bồ đề động
lay giữa trời trong
một sắc hư không
một sắc ửng hồng.
am nhỏ lưng chừng
thềm rêu xanh ngát
ngồi yên một lát
dường đã về đây.
Phủ Am Trà vắng
hương khói mong manh
người dâng một niệm
trôi giữa trời xanh.
không tìm đâu ra
cảnh này đã đủ
một hơi thở nhẹ
mở cửa trong nhau.
kinh không lời viết
gió đọc ngang hiên
một niệm vừa khởi
một niệm vừa buông.
..
Thời điểm ngồi trong phòng khách sạn của N vào buổi tối, tôi cảm thấy mệt rũ rượi. Không chỉ cơ thể, mà cả tâm trí, từng chút một, tích tụ dần trong suốt những ngày qua.
Hồi chiều, trên đường đến đỉnh Côn Sơn, chúng tôi có nói về số phận của Nguyễn Trãi. Là một đại thần có công với đất nước, nhưng ông đã bị các thế lực đối nghịch vu hại tội giết vua, phải chịu án tru di tam tộc.
Giai thoại xưa có đề cập đến việc Nguyễn Trãi đã phần nào biết trước về số phận của mình. Đầu tiên là từ ông ngoại Trần Nguyên Đán, vốn tinh thông mệnh lý, đã xem lá số tử vi của người cháu và biết được Nguyễn Trãi dễ gặp họa sát thân, thậm chí liên lụy đến cả ba họ. Sau đó là lời cảnh báo của Hoàng Phúc, một quan viên, đồng thời là nhà phong thủy đại tài của Trung Quốc. Ông bị bắt làm tù binh trong khởi nghĩa Lam Sơn, sau đó bị giải về dinh trại Bồ Đề ở viên môn của Nguyễn Trãi. Lúc này, Hoàng Phúc đã nhận định, tổ mộ của gia tộc nhà Nguyễn Trãi có vị trí phong thủy không tốt, cả dòng họ con cháu sẽ bị tru diệt.
Con đường Nguyễn Trải phải đi qua, liệu có thể nào không đi? Không phải con đường nào cũng dễ chịu, có những con đường dẫn đến kết cục như của Nguyễn Trãi.
Trong lúc tôi suy nghĩ lan man, thì đã tới lượt anh Thuận chia sẻ trong vòng trà. Anh nói về sự bất công anh chứng kiến mẹ và chị mình chịu đựng trong quá khứ, vì vậy khái niệm về sự công bằng đã theo đuổi anh một thời gian dài. Sau này, anh hiểu rằng có một vài chuyện không thể tránh khỏi, dẫu đó chưa chắc là một trải nghiệm dễ chịu, nhưng nhiều người buộc phải đi qua.
Tôi nhớ, N hay anh Tâm đã nói, nếu đã hiểu, vì sao chuyện đó lại vẫn khiến anh không yên.
Anh Thuận nói, vì nó đã lan rộng đến những chỗ khác.
Vậy anh đã hiểu nguồn gốc, sao vẫn còn day dứt?
Việc hiểu ngọn nguồn có giúp cho anh Thuận đi hết con đường của anh? Hay đến một lúc nào đó lại là trở ngại? Tôi tự hỏi. Nhưng nếu không hiểu, hẳn sẽ thấy không đúng. Đó là một phần trong con đường của anh.
Anh T không nhất thiết cần hiểu, chỉ cần chấp nhận. Anh Thuận cần hiểu trước, để đi đến chấp nhận.
Không có câu trả lời rõ ràng. Chúng ta chỉ có thể đi tiếp, đi trọn con đường của mình.
Sáng hôm sau, tôi nghe nói, sau khi rời khỏi phòng của N, anh Thuận và anh Tâm đã trò chuyện đến hơn một giờ sáng.
Tôi không biết anh Thuận đã tìm được câu trả lời mình muốn vào đêm đó chưa. Nhưng tôi hy vọng anh đã được tiếp thêm can đảm để đi tiếp con đường của riêng anh, một cách trọn vẹn.
Điểm tham quan cuối cùng trong chuyến đi đưa chúng tôi đến làng Nôm ở Hưng Yên. Nghe nói làng đã xuất hiện từ những năm đầu Công Nguyên, từ thời của Hai Bà Trưng. Ngôi làng hiện tại vẫn còn lưu giữ những nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ như cây đa, giếng nước, sân đình, hay cổng làng rêu phong. Ao nước lớn giữa làng có cầu đá bắc ngang, với con đường hai bên đi ngang qua nhà tổ các dòng họ lâu đời.
Thả bộ dọc con đường gạch từ cổng làng tầm vài phút, chúng tôi dừng trước sân Đình Nôm. Bước vào bên trong, chúng tôi may mắn được già làng mời vào uống trà. Cụ kể, con cháu giờ tứ xứ làm ăn, những lễ tết vẫn tụ họp. Những dịp đặc biệt, các cụ hạ thọ (60 tuổi), trung thọ (70 tuổi), thượng thọ (80 trở lên) sẽ mặc các áo dài và đội khăn xếp màu khác nhau theo cấp bậc tuổi, và ngồi ở vị trí trang trọng để con cháu dâng trà chúc thọ.
Uống hết trà mời, chúng tôi đứng dậy cám ơn, từ biệt cụ đến chùa Nôm, còn được biết đến là di tích nổi tiếng nhất của làng. Ngôi chùa có niên đại từ thế kỷ 17, với khuôn viên rộng đến 15 ha. Gần đây, chùa được quan tâm đầu tư hơn, nên có thêm nhiều công trình mới như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách, gác Chuông, gác Trống, Lầu Quan Âm.
Từ tháp chuông, mọi người bắt đầu tản ra từng nhóm nhỏ tham quan chụp hình. Tôi đi loanh quanh nhìn ngó một lúc, thì tìm đến được khu nhà Tổ thờ các vị trụ trì chùa. Trước khu vực thờ có bố trí ghế gỗ, bàn đá nhìn ra phía Lầu Quan Âm giữa hồ nước. Đang độ giữa trưa, nhưng nhờ hồ nước và bóng râm xung quanh, cảm giác mệt mỏi từ tối hôm trước bỗng được xoa dịu, khiến tôi chỉ muốn ngồi đây mãi.
Tôi thừ người một lúc. Đến ngày cuối cùng, tôi thấy mình lơ lửng ở lưng chừng, giữa những gì đã biết và vừa biết, giữa những thay đổi xốn xang, và những lặng lẽ ở lại.
Nên tôi rất hiểu cảm giác của chị T, khi chị chia sẻ rằng, với một người hay suy nghĩ, tới giữa chừng chuyến đi, đầu óc chị dần trở nên mơ màng, không thể diễn đạt thành lời.
Chúng tôi ngồi lại cùng nhau một vòng trà cuối trước khu nhà Tổ. Ngẫu nhiên, những câu hỏi đều giúp tôi chúng tôi, một lần nữa, nhìn nhận lại vấn đề mình đã mang theo từ đầu hành trình.
Với C là cái tôi.
Với N là những gì đang bảo vệ bạn.
Chị T là trách nhiệm.
Còn tôi, là sự chấp nhận thực tại.
Tôi nhận được câu hỏi rằng, tôi đang chờ điều gì để bắt đầu thực sự sống?
Tôi đã luôn sống như Gatsby, mãi đuổi theo ánh đèn xanh ở bờ bên kia. Trong mắt tôi, mọi thứ đều mang vẻ ngoài đẹp đẽ hơn nơi tôi đang đứng. Đến hiện tại, tôi không còn nghĩ rằng bờ bên kia là điều tuyệt vời hơn. Chỉ là tôi vẫn đang đi tìm sự sẵn sàng trong mình, học cách chấp nhận nơi mình đang đứng.
Không chỉ chúng tôi, cả 3 anh dường như cũng đã tìm thấy điều cần được tìm thấy.
Mừng là trong chuyến đi lần này, anh Thuận đã thấy thoải mái hơn để bộc lộ bản thân mình. Tôi mong là nó sẽ giúp cho anh, cũng như anh đã giúp chúng tôi trong những ngày qua vậy.
.
Lúc ngồi trên xe từ Bắc Ninh đến sân bay Nội Bài, tôi mở cuốn sổ tuần du ký thì thấy 4 câu thơ được anh Vũ viết tay lại.
chuyến đi khép lại
con đường mở ra
vẫn đang tiếp tục
ngay nơi mình đứng.
Chỉ hai tiếng trước, chúng tôi còn quây quần bên nhau ăn tối ở nhà anh Thuận. Giờ đây lại là giây phút chia tay.
Chúng tôi nghe nói nhà tổ gia đình anh Thuận sẽ được xây lại, khó lòng giữ nguyên vẹn như trước. Có thể hôm đó là lần cuối cùng chúng tôi được quây quần trong không gian nhà cổ này. Đó là một bữa ăn ấm cúng, mọi thứ bày biện trên tấm trải, có cả bánh tro và bánh trôi trắng chấm mật ăn cùng. Mọi người ngồi đất, sẻ chia những câu chuyện hằng ngày, chuyện đất đai, chuyện chòm xóm.
Rồi khung cảnh quây quần bên nhau cũng dần mờ đi, đan cài cùng dòng xe cộ đổ về phía trước, hóa thành một con đường mờ xám, trải dài đến tận cùng.
Và tôi nhìn xuống chân mình. Vẫn đang chạm đất, lặng yên.